KỸ THUẬT NUÔI CHỒN NHUNG ĐEN
LỜI NÓI ĐẦU
CHỒN Trung Quốc là loài
động vật ăn cỏ quý hiếm, sống hoang dã từng đàn, được chế biến thành thuốc,
thực phẩm, da lông, thưởng thức, tẩm bổ sức khỏe. Thịt của nó thơm ngon, hàm
lượng dinh dưỡng cao. Theo nghiên cứu của các chuyên gia, thịt CHỒN
thuộc loại thực phầm giàu Protein, mỡ ít, hàm lượng colestoron thấp, có chứa 17
loại axit amin và các nguyên tố vi lượng mà cơ thể người cần. Trong 100 gam
thịt CHỒN
khi thủy phân thì có đến 19 gam
axit amin, đặc biệt là giúp tăng cường sức bền cho con người và hàm lượng axit
(tương tự có trong cây thiên môn đông – vị thuốc đông y) tương đối cao. Hàm
lượng axit amin nằm trong loại thịt thơm ngon bổ dưỡng này chiếm 17%. Sắc tố
đen có tác dụng kháng bệnh, kháng khuẩn, điều tiết cho cơ thể người. Thịt của CHỒN có rất nhiều công dụng như: tráng dương sinh
lực, làm đẹp dung nhan, tăng trí thông minh, lưu thông huyết mạch, nâng cao sức
đề kháng; điều trị rất tốt bệnh cao huyết áp và các bệnh tim, não, huyết quản
của người già.
CHỒN là loài động vật ăn cỏ sống thành từng đàn nhỏ
đặc trưng; không ăn lương thực của người, chúng chỉ ưa thích các loại cỏ dại,
lá cây, quả chín rụng….Nuôi CHỒN có thể hoàn toàn tận dụng nguồn tài nguyên
phong phú này của Việt Nam. Chỉ cần nuôi dưỡng CHỒN trong thời gian ngắn đã có thể đạt hiệu quả
kinh tế cao và hàm lượng dinh dưỡng cao nhờ sắc tố đen tự nhiên của nó. Dùng
thời gian rảnh rỗi nuôi từ 5 đến 10 đôi, mà không hề ảnh hưởng đến sản xuất,
công việc. Làm chuồng bằng cây gỗ, tre, trúc cao 30 cm, để ở dưới gầm cầu thang
hoặc ban công. Chúng sinh sống rất sạch sẽ, vệ sinh, không gây ô nhiễm. Mỗi m2
có thể nuôi 10 con trở lên. Mỗi một con
mẹ có thể mang thai từ 4 đến 6 lần/ năm, mỗi lần sinh từ 2 đến 8 con, nếu cứ
mang thai liên tục có thể sinh được khoảng 30 con trong vòng một năm. Nuôi 1
đôi CHỒN
thu nhập mỗi năm có thể đạt 5triệu. CHỒN có khả năng kháng bệnh cao, tính thích ứng
rộng; điều kiện nuôi dưỡng và nhu cầu kỹ thuật đơn giản; rất thích hợp cho các
gia đình ở thành thị, nông thôn nuôi dưỡng, giúp cho cán bộ không còn công tác
(nghỉ hưu hoặc mất sức) và khu vực nghèo khó nhanh chóng thoát nghèo.
Những năm gần đây,
cùng với việc mức sống của quần chúng nhân dân được nâng cao; ăn ngon, đủ chất,
giàu dinh dưỡng, khỏe mạnh đã trở thành nhu cầu mới của người hiện đại. CHỒN với hương vị đậm đà, đảm bảo đủ dinh dưỡng,
hiệu quả chữa bệnh cao đã đáp ứng được nhu cầu của mọi người, chính vì vậy thực
phẩm được chế biến từ CHỒN đã trở thành món ăn mới, thường trực trên bàn
ăn.
Thị trường dành cho
nuôi và chế biến thực phẩm từ thịt CHỒN rất rộng, tiềm năng khai thác lớn; là nghề
sáng lạn, nhiều hứa hẹn tốt đẹp. Nuôi dưỡng, chế biến và khai thác tổng hợp thịt
CHỒN
đã được Bộ Nông Nghiệp Trung
Quốc đưa vào hạng mục lớn, trọng điểm sản phẩm mới và ưu tiên. Để đưa CHỒN Trung
Quốc nhanh chóng đi trên con đường ngành nghề hóa, quy mô hóa phát triển kinh
doanh; công ty TNHH chế biến thực phẩm thịt CHỒN Kim Sinh huyện Hoành hợp tác với các ban,
ngành và chuyên gia có liên quan để nghiên cứu nhằm xây dựng khu nuôi dưỡng,
chọn giống ngay tại công ty và cho xuất xưởng hàng vạn đôi CHỒN giống; trung bình mỗi năm cung cấp ra ngoài
thị trường 100 nghìn đôi CHỒN chất lượng; đồng thời hợp tác rộng rãi với
chính phủ các địa phương, tổ chức doanh nghiệp và cá nhân trong việc nuôi dưỡng
liên hợp, tiêu thụ, chế biến thịt, khai thác lông da và thương mại quốc tế. Vận
dụng chiến lược kinh doanh “quy mô nhỏ, quần thể lớn”, với mô hình “công ty +
hiệp hội + cơ sở+ hộ chăn nuôi” cùng bắt tay chung sức khai thác thị trường
rộng rãi thực phẩm thịt CHỒN Trung Quốc, góp phần thúc đẩy
kinh tế địa phương phát triển, mang lại cuộc sống ấm no cho người dân.
Quyển sách này là
kết quả của tác giả nghiên cứu thực tế nuôi dưỡng và sinh sản của CHỒN trong vài năm, cùng với kinh nghiệm của những
người đi trước về mặt kỹ thuật nuôi dưỡng, đi sâu tìm hiểu qua sách, báo, tài
liệu, văn tự. Đây cũng là tài liệu tham khảo hữu ích cho những ai yêu thích
loài động vật này, hy vọng có thể giúp ích họ đạt thành công trong việc nuôi và
chế biến thịt CHỒN. Tuy nhiên, do đây là loài vật mới mà các chuyên gia mới
nghiên cứu tìm ra trong những năm gần đây nên cần không ngừng hoàn thiện về mặt
quy mô và sản xuất. Hoan nghênh các độc giả có những ý kiến đóng góp quý báu,
tác giả xin chân thành cảm ơn.
CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT
I. Tình hình phát triển của “chồn nhung đen”
CHỒN có nguồn gốc là động vật hoang dã vùng núi Andes châu Nam Mỹ, sau đó được các chuyên gia nghiên cứu
tìm ra giống đen, thuần chủng, vẫn gọi là CHỒN. Năm 1992, Trung Quốc lần đầu
tiên phối giống thành công CHỒN, đồng thời nhân giống rộng rãi. Tháng 10 năm 1999,
được mạng truyền thông sản phẩm kỹ thuật mới nông nghiệp toàn quốc đưa vào
chương trình giới thiệu trọng điểm. Từ đó, nhiều địa phương trên khắp cả nước
đã phát triển nuôi dưỡng, sinh sản; rất nhiều nơi đã nghiên cứu thêm về thành
quả khoa học này. Vườn thực vật Quảng Tây là đơn vị sớm nghiên cứu CHỒN;
trải qua nhiều năm nghiên cứu nuôi dưỡng, năm 2001 tổ chuyên gia phòng khoa học
kỹ thuật Quảng Tây đã được sự đồng ý thành lập của tỉnh. Vì CHỒN có giá trị dinh dưỡng cao, hương vị thơm ngon,
đều được dùng làm thực phẩm hoặc dược phẩm, chúng có nhiều ưu điểm như khả năng
kháng bệnh cao, ăn tạp, dễ nuôi. Các nơi như Quảng Tây, Triết Giang, Thượng Hải
rất nhanh sau đó đã nuôi dưỡng và nhân giống hành công. Từ tổ nghiên cứu kết
quả CHỒN Quảng Tây, công ty TNHH chế
biến thực phẩm CHỒN Đạt Kim Sinh huyện Hoành tỉnh Quảng Tây năm 2000 đã cho ra
đời 60 đôi CHỒN thuần chủng, sau
nhiều năm nhân giống, đến cuối tháng 11/2004 đã phát triển với quy mô 60 nghìn
đôi, đồng thời đã thu hút 1500 hộ nông dân khu vực lân cận nuôi dưỡng nhân
giống, thu nhập của những hộ dân này lên đến hơn 1 vạn tệ. Nuôi, nhân giống CHỒN giúp cho nông dân nhanh chóng thu được hiệu
quả kinh tế cao. Chính phủ huyện Hoành đã đưa việc nuôi, nhân giống CHỒN vào chương trình phát triển có quy mô, lần đầu
tiên thành lập hiệp hội nuôi, nhân giống chồn nhung đen với số lượng hơn 1200
hội viên, bước đầu hình thành mô hình “3 đơn vị nhất thể”là cung ứng con giống,
thu mua CHỒN thương phẩm, thu
mua sản phẩm và chế biến. Công ty đã xây dựng nên hệ thống nuôi dưỡng, phối
giống, cập giống, thu mua, tiêu thụ, phục vụ và tư vấn.
Hiện nay, rất nhiều
nơi đang có nhu cầu về CHỒN nhưng nguồn cung ứng không đủ. Các khu vực ven
biển như Hồng Koong, Ma Cao đã tạo nên cơn sốt CHỒN, biến nó trở thành
món ăn cao cấp trong các nhà hàng, khách sạn. Nhu cầu thị trường càng gia tăng,
chính vì thế viễn cảnh cho CHỒN rất sáng lạn.
II. Phát triển nuôi dưỡng “chồn nhung đen”
1. CHỒN có giá trị kinh tế cao
a. Vừa dùng làm thực phẩm vừa dùng
cho dược phẩm
CHỒN thuộc vào dòng thực phẩm sắc đen và sắc xanh;
nó bổ xung vào phần thiếu của Trung Quốc vì không có thực phẩm màu đen. Chất
lượng thịt của CHỒN rất tốt, hương vị thơm ngon, có gần như đầy đủ các thành
phần dinh dưỡng. Các chuyên gia dinh dưỡng cho hay, CHỒN là loại thực phẩm mang lại vẻ đẹp, khỏe mạnh
cho phụ nữ, thanh niên ăn vào thì trẻ trung, trẻ em ăn vào thì thông minh và sẽ
mang lại sức khỏe cho người già. Có tác dụng trị liệu rất tốt đối với các bệnh
về tim, não, huyết quản. Thị trường dành cho CHỒN vô cùng rộng rãi.
b. Những giá trị khác của “chồn
nhung đen”
Toàn thân CHỒN đều quý. Lông có thể thủy phân lấy được các
chất Protein và axit trong đó; máu có sắc tố đen quý, da lông có thể gia công
thành các sản phẩm mỹ nghệ trong phục trang quý hiếm. Mỡ của nó có thể làm
thành mỹ phẩm cao cấp, xương của CHỒN ngâm riệu có thể chữa được bệnh phong thấp.
2. CHỒN có ưu thế tuyệt đối trong việc nuôi và nhân
giống
a. Ưu thế của động vật ăn cỏ tiết
kiệm lương thực
Hiện nay, dân số
trên thế giới ngày càng gia tăng, diện tích đất canh tác ít, việc thiếu hụt
lương thực cuối cùng cũng là hiện thực, nhu cầu về lương thực càng trở nên cấp
thiết vì vậy ra sức phát triển động vật ăn cỏ tiết kiệm lương thực có ý nghĩa
mang tính chiến lược. Thức ăn chính của CHỒN là cỏ mà nguồn nguyên liệu này ở nước ta phong
phú, có thể biến phế thải thành thứ có giá trị, hộ chăn nuôi chỉ trong thời
gian ngắn đã thu được hiệu quả kinh tế cao, đáp ứng được nhu cầu lớn của người
tiêu dùng.
b. CHỒN là loài sống theo đàn nhỏ
CHỒN thuộc giống bé, mỗi
con trung bình nặng từ 0,75 đến 1,5 kg. Theo tổ chức nông lương của Liên hợp
quốc (FAO) khảo sát nhiều năm năm cho hay: khu vực nông thôn ở các nước nuôi CHỒN
có nhiều ưu thế như thức ăn cho chúng nhiều, giá rẻ, các loại cỏ là thức ăn
chính của chúng, mô hình chăn nuôi đơn giản.
c. Tốc độ sinh trưởng nhanh, thời
gian mang thai ngắn, mỗi lần sinh sản với số lượng nhiều, thành thục sớm, rất
nhanh cung cấp sản phẩn thịt cho người chăn nuôi. Mỗi năm CHỒN mang thai từ 4 đến 6
lần, sinh ra khoảng 20 đến 40 con. Sau 40 ngày sau đã mang tính đặc trưng, 60
ngày có thể cho phối giống từ 6 đến 8 tháng trở thành thương phẩm tiêu thụ.
d. CHỒN có thể sinh trưởng
trong môi trường điều kiện thời tiết khắc nghiệt, nóng lạnh hoặc thay đổi thời
tiết; khả năng kháng bệnh cao, từ trước cho đến nay, chưa phát hiện ra chúng
mang bệnh truyền nhiễm.
III. Đặc trưng hình thái của “chồn nhung đen”
CHỒN là loại được lai giống từ CHỒN thuần màu
đen. CHỒN
thân ngắn, khoảng cách từ đầu đến 4 chân thấp, không có đuôi, chân trước 4
móng, chân sau 3 móng, chân sau dài hơn chân trước, không thể nhấc lên cao.
Toàn thân được phủ kín bởi lông ngắn, dày, mềm, đen nhánh, đầu đen, mắt đen,
mũi đen, tai đen; mỗi năm thay lông vào mùa xuân thu; đầu có hình tròn. Thân CHỒN dài từ 30 đến 40 cm, CHỒN mới sinh nặng khoảng 90 đến 100 gam.
IV. Tập tính sinh sống của “chồn nhung đen”
CHỒN sống ôn hòa, thích sống thành từng bầy
đàn, không thích bị quấy giầy, thính giác nhạy cảm, sống thân thiện với con
người; không có khả năng phản ứng trước sự xâm phạm của bất kỳ điều gì ngoài
việc chỉ biết trốn chạy, sợ ao hồ, ẩm ướt, thích môi trường sạch sẽ, khô ráo.
Khi đói, chúng thường phát ra những tiếng kêu nhỏ. Nếu muốn xin thức ăn, không
ít CHỒN
đứng thẳng hai chân sau lên, hai chân trước chắp lại như kiểu cầu xin. Khi được
ăn, chúng liền ngừng kêu, ăn no chúng quay ra nô đùa với nhau. Chúng rất nhạy
cảm với điều kiện thời tiết thay đổi. Ví dụ như đang lạnh chuyển sang nóng,
đang nóng thành lạnh, chúng thường bị cảm cúm, viêm phổi dẫn đến chết. Nhiệt độ
thích hợp nhất cho chúng là từ 18 đến 250C.
CHỒN khi không còn bú
mẹ nữa thì thích ưa hoạt động, nhảy nhót xung quanh vì vậy chuồng nuôi cần chú
ý diện tích rộng; nếu không sinh trưởng phát dục sẽ không tốt, ảnh hưởng đến số
lượng con thấp.
Khi con đực tới
thời kỳ phát dục, chúng sẽ kêu những âm thanh nho nhỏ, đi tìm con cái; sau khi
việc giao phối hoàn thành, chúng cũng kêu lên biểu thị sự vui mừng. Những con
đực mạnh sẽ nghiến răng kèn kẹt để thị uy những con đực khác.
Dạ dày của CHỒN rất yếu, vì vậy không nên dùng tay xoa vào
bụng nó đề phòng trường hợp gây tổn thương dạ dày của chúng, đồng thời cần chọn
loại thức ăn phù hợp với khẩu vị của CHỒN .
V. Đặc tính sinh trưởng, phát dục
của “chồn nhung đen”
CHỒN từ lúc sinh ra đến khi trưởng thành, đối với
con cái mất khoảng 60 ngày còn con đực khoảng 70 ngày; con cái thường sinh vào
ban đêm, con con ra đời vài tiếng sau đã có thể ăn thức ăn mềm. CHỒN từ 40 đến 60 ngày, có trọng lượng khoảng 500
gam; thời kỳ sinh sản mạnh nhất của CHỒN từ năm tuổi thứ 2 đến 3; tuổi
thọ kéo dài từ 6 đến 7 năm.
CHƯƠNG II
NUÔI DƯỠNG VÀ QUẢN LÝ CHỒN NHUNG ĐEN
I. Làm chuồng cho CHỒN
a. Chọn địa điểm
Để nuôi được CHỒN,
điều quan trọng đầu tiên là phải chọn địa điểm làm ổ như thế nào, điều này phụ
thuộc vào tập tính sinh sống, môi trường sinh trưởng, đặc điểm trưởng thành,
đặc điểm khí hậu, quy mô nuôi dưỡng, trình độ quản lý chúng. Muốn chọn được địa
điểm tốt, cần chú ý một số điểm sau:
- Chọn nơi đất cao, khô ráo,
bằng phẳng, thoát nước tốt, ánh sáng mặt trời đủ, theo hướng bắc nam. Vùng núi,
cần chọn nơi thoáng gió.
- Chú ý nên tránh xa những xưởng
sản xuất hóa học, đường phố có xe cộ đi lại nhiều, tiếng ồn đường ray xe lửa,
tránh muỗi và những nơi động vật khác sinh sống.
- Cần tính đến điều kiện giao thông thuận tiện, nguồn nước
sạch đảm bảo vệ sinh; đề phòng nguồn nước dùng cho chúng bị ô nhiễm gây hậu quả
xấu.
b. Yêu cầu làm chuồng
Yêu cầu làm chuồng
cho CHỒN
khá đơn giản, chỉ cần những căn
phòng cũ, không dùng đến (kiểu như nhà kho), cải tạo lại chuồng lợn cũ đều
được. Để đạt được hiệu quả cao, cần làm tốt những việc sau:
- Không khí: Chuồng
cho CHỒN
to hay nhỏ nhưng nhất định trong
chuồng cần thông thoáng, sạch sẽ, đông ấm hè mát, thiết kế cửa vào không cho
gió trực tiếp thổi thẳng vào CHỒN
đề phòng bị cảm lạnh, tránh những vùng đất ướt và nước mưa.
- Nhiệt độ, độ ẩm,
ánh sáng: Chuồng của CHỒN cần khô sạch, nhiệt độ và độ ẩm
thích hợp. Mùa hè cần khống chế duy trì nhiệt độ vào khoảng 25 đén 300C;
mùa đông cần giữ ấm khoảng 200C, thấp nhất cũng không được xuống
dưới 100C; độ ẩm khoảng 50 – 60%; nhiệt độ quá cao hoặc quá thấp đều
có thể ảnh hưởng đến sinh trưởng của CHỒN; độ ẩm quá lớn có thể gây ảnh
hưởng đến sinh sản của chúng, hơn nữa còn gây bệnh cho chúng. CHỒN
thích ánh sáng nhẹ, để phòng trường hợp ánh sáng mặt trời trực tiếp chiếu thẳng
vào chúng.
- Đảm bảo sự yên
tĩnh và phòng chuột: CHỒN rất thích yên tĩnh, chính vì vậy môi trường
xung quanh chuồng cần yên tĩnh, sàn chuồng tốt nhất nên lát xi măng, hoặc trong
những lồng khép kín bằng thép, thông thoáng, đề phòng chuột và những động vật
khác quấy nhiễu.
II. Yêu cầu về chuồng nuôi
Chuồng nuôi CHỒN đơn
giản, có thể nuôi trong bồn, nuôi trong hộp, nuôi trong lồng…
1. Nuôi trong bồn
Cách nuôi này phù
hợp với các hộ ở nông thôn, lát phẳng nền, làm nó trở thành bồn khô ráo, có thể
phân thành các ô nhỏ, dùng gạch, xi măng, đất, đá lát xây thành. Kích cỡ bồn
nuôi CHỒN
100 cm x 80cm x 40 cm (dài x rộng x cao).
2. Nuôi trong lồng
Lồng được làm bằng
dây thép, phiên trúc hoặc gỗ cây, kích cỡ lồng 60 cm x 60 cm x 40 cm (dài x
rộng x cao). Mỗi lồng nuôi từ 4 đến 5 con CHỒN trưởng thành hoặc từ
10 đến 15 CHỒN con. Đây là phương thức tiết kiệm thức ăn chăn nuôi; ưu
điểm là có thể khống chế sinh sản và nguồn nguyên liệu, đảm bảo vệ sinh sạch
sẽ.
3. Nuôi trong hộp
Dùng gỗ làm thành
hộp cao 30 cm, rộng 40 cm; có thể chia thành tầng, mỗi tầng cách nhau 30 cm, ưu
điểm có thể tận dụng hoàn toàn không gian, quản lý tập chung.
4. Nuôi theo phương thức lập thể
Đây là phương thức
nuôi thích hợp với quy mô công xưởng. Tận dụng hoàn toàn khoảng không gian,
diện tích đất cần ít, nuôi với số lượng lớn. Cho dù là nuôi trong bồn, lồng hay
hộp đều phải có cửa cho thuận tiện.
5. Nuôi theo phương thức thả dông
Chỉ cần sau
nhà, phòng có bãi cỏ bằng, đất trống, được xây tường bao quanh để làm chuồng
cho CHỒN.
Cần lợp mái để tránh mưa. Phương thức nuôi rải rác là cách để CHỒN tự tìm nơi sinh sống, xung quanh tường có
trồng các loại rau quả, cỏ tạp và các loại thức ăn khác. Cách nuôi này không
thích hợp với mùa đông lạnh giá.
III. Yêu cầu về thức ăn và chế độ
dinh dưỡng của “chồn nhung đen”
CHỒN là loại động vật
ăn cỏ, thức ăn thô, khả năng tiêu hóa của chúng tốt hơn thỏ, lợn và các
loại gia cầm khác. Có thể tận dụng các loại thức ăn như: lá cây, cỏ xanh, quả
dại, nông vật phẩm. Thức ăn thông thường của chúng chủ yếu phân thành:
-
Thức ăn xanh
+ Cỏ tạp tự nhiên
+ Các loại rau quả:
Dưa, quả ngọt, hoa quả, rau muống, cà rốt…
+ Các loại rau cỏ
dại: Ở các góc ruộng, bờ mương mọc rất nhiều cây cỏ dại. Chỉ cần chúng không
độc, không bị ô nhiễm thì đều có thể cho CHỒN ăn.
+ Thực vật thủy
sinh các loại: Cần chú ý nguồn thức ăn này chứa hàm lượng nước cao dễ khiến CHỒN
mắc bệnh, nên tốt nhất cần rửa sạch, làm khô rồi mới cho chúng ăn.
-
Thức ăn khô
Từ tháng thứ 6 –
10, phơi dưới ánh nắng mặt trời cây thân lúa hoặc cỏ dại thành rơm khô 85 -
90%, ví dụ: rơm rạ khô, thân cây ngô khô, cỏ voi khô rất tiện cho mùa đông
thiếu cỏ tươi, có thể thay thế thức ăn tươi. Thức ăn là thân cây như: rơm, thân
cây ngô, thân cây lúa mạch, lá và ngọn mía, thân cây họ đậu, những thứ này sau
khi được chế biến thành dạng bột có thể cho lẫn vào thức ăn của CHỒN.
-
Thức ăn tinh
Thức ăn tinh là
thức ăn hỗn hợp giữa thức ăn năng lượng và thức ăn Protein. Thức ăn năng lượng
như: cám gạo, bột ngô, ... Thức ăn có Protein phân thành thức ăn Protein động
vật như: bột cá, bột thịt, bột xương, bột huyết, bột nhộng. Thức ăn Protein
thực vật: các loại đậu, bánh đậu…
- Thức ăn có chất khoáng và Vitamin
Cơ thể CHỒN
cần hơn 10 loại khoáng chất, trong đó chủ yếu là: Natri, Clo, Canxi, lan, sắt.
Những nguyên tố dinh dưỡng này có trong: bột xương, bột trứng, muối ăn, thạch
phấn, bột cao hào… các loại Vitamin chủ yếu là Vitamin A, B, C, D.
IV. Chọn giống và sinh sản “chồn
nhung đen” giống
1. Yên cầu của việc chọn giống
Chọn giống là một
bước quan trọng nhất trong quá trình nuôi CHỒN chọn giống tốt để làm giống.
Đặc điểm là: Cơ thể hoàn toàn khỏe mạnh, béo tốt, toàn thân màu đen tuyền, màu
lông đen ánh, cử chỉ linh hoạt, đầu hình tròn, 4 chi khỏe mạnh, mắt đen sáng,
mũi hồng ướt, hô hấp đều, không mắc bệnh về da liễu, không có bọ chét, cơ quan
sinh dục phát triển tốt, tinh hoàn của con đực to và đối xứng, dương vật phát
triển bình thường, khả năng phối giống khỏe, tính tình ôn hòa, dễ thuần hóa;
con cái khỏe mạnh, ăn khỏe, khả năng kháng bệnh tốt, âm hộ phát triển bình
thường, tính ôn hòa, nhiều vú; những con già bệnh, tàn tật hoặc lông nhiều màu
không thể để làm giống, cần kịp thời đào thải.
2. Xác định giới tính
Dùng tay trái cầm
nhẹ nhàng gáy con CHỒN, dùng ngón cái ấn vào sườn phải, 4 ngón còn lại đặt vào
sườn trái và phần ngực nhẹ nhàng xách nó lên, đùi hướng lên trên, sau đó dùng
ngón cái hoặc ngón trỏ bàn tay phải ấn nhẹ vào bộ phận hội âm, quan sát xem có
dương vật xuất hiện hay không, nếu có đó là con đực, nếu không thì là con cái,
con đực có 2 tinh hoàn lớn, con cái thì không có.
3. Phối giống cho “chồn nhung đen”
Thời kỳ phát dục
của CHỒN
là 40 -60 ngày, để giữ được ưu điểm của giống, nhất định phải đợi cơ quan sinh
dục của CHỒN hoàn thiện, đạt được sự thành thục mới cho chúng giao
phối. Con đực cho giao phối phải có 80 – 100 ngày tuổi, con cái có 70 – 90 ngày
tuổi là tốt, như vậy CHỒN con sinh ra mới khỏe mạnh. Chu
kỳ tính dục CHỒN cái là 12 -18 ngày, con cái rụng trứng luôn là lúc sắp kết
thúc phát dục nên sẽ đạt hiệu quả giao phối tốt nhất nên tiến hành vào ban đêm,
có thể nâng cao tỷ lệ thụ tinh. Khi giao phối, nếu con cái ở thời kỳ phát dục,
con đực ở bên cạnh phát ra tiếng kêu, đuổi theo bạn tình, giữa con đực và con
cái biểu hiện rất thân mật. Nếu có thì giao phối thành công, không có thì giao
phối thất bại. Một con đực nhiều nhất có thể giao phối với 4 đến 5 con cái,
không nên cùng lúc thả nhiều con đực để giao phối, nếu không sẽ có hiện tượng
tranh nhau giao phối, ảnh hưởng đến tỷ lệ giao phối thành công. Nếu là sinh sản
thuần chủng thì tốt nhất nên 1 con đực giao phối với 1 con cái. Con giống được
chọn thích hợp với phối giống xa, không được phối cận huyết.
Có 3 phương pháp
phối giống
Cách 1: Đánh số cho
từng cặp CHỒN mẹ và con, sau khi sinh 15 – 20 ngày tách con mẹ ra ở
riêng, CHỒN bố, mẹ, con, nuôi riêng từng nơi. Khi giao phối sử dụng
phương pháp đan xen, tức là đợi con cái phát dục, chọn con đực có họ hàng xa
không cùng đời bố mẹ để phối giống. CHỒN con sinh ra nhờ phương pháp này
sẽ có số lượng nhiều và phẩm chất tốt, khả năng kháng bệnh tốt.
Cách 2: Sử dụng
phương pháp huyết phối
Đợi con cái sinh
con xong, ta thả chúng vào với con đực trong nửa ngày để tiến hành huyết phối,
hoặc 1 con đực với 4 dến 5 con cái tiến hành giao phối tự nhiên. Cách làm này
tỷ lệ thành công cao, sinh sản mạnh, nếu phát hiện thế hệ sau của chúng có lông
nhiều màu sắc cần lập tức thay thế con đực giống khác.
Cách 3: Phương pháp
giao phối xa khi cho chúng tạm thời sống chung.
Thông thường con
đực và con cái không nuôi cùng một nơi. Trong vòng 12 giờ sau khi con cái đẻ
xong và con con cai sữa, thả con đực có họ hàng xa vào nơi con cái ở, cho chúng
tạm thời sống chung và giao phối. Sau khi giao phối thành công, nuôi riêng con
đực và con cái. Cách làm này có thể cho ra những thế hệ sau ưu việt hơn. Do
thời gian giao phối ngắn nên con đực có thể duy trì được tinh lực sung mãn, tỷ
lệ thụ tinh của con cái cao, bảo vệ có hiệu quả cho việc mang thai của con cái,
con đẻ ra sẽ khỏe mạnh, tỷ lệ sống sót cao, khả năng kháng bệnh tốt. Con cái
khỏe mạnh có thể tiến hành giao phối 2 lần, tức là sau khi con thứ nhất giao
phối thành công, ta cách li nó với con cái và chọn con đực có họ hàng xa thứ 2
để tiến hành giao phối lần 2. Thực tiễn đã chứng minh cách làm này rất hay,
bình quân mỗi bào thai sẽ cho ra 3,7 – 4,4 con, tỷ lệ sống sót của con non
trước khi cai sữa là 93 – 97%. Chú ý mỗi con đực không được giao phối với vài
con cái, nếu không con đực sẽ mất nhiều tinh lực, dẫn đến giao phối thất bại,
bỏ lỡ mất thời kỳ phát dục của con cái.
Mang thai, sinh
con, cho con bú
Sau khi giao phối
thành công, trứng được thụ tinh sẽ làm tổ trong thành tử cung, hình thành nên
giai đoạn mang thai. Thai phát triển sau khoảng 65 ngày thì có thể sinh con.
Trước khi sinh 3 -5 ngày, con cái sẽ dùng răng bứt lông ở cạnh vụ để lộ ra đầu
vú và làm sạch âm hộ. Trước khi đẻ con cái sẽ ngừng ăn 1- 2 bữa, bất an, phát
ra tiếng kêu nhỏ, thích làm ổ nơi cỏ khô mềm mại. Âm hộ tiết ra nước ối và máu.
Sau khi đẻ xong, con CHỒN mẹ sẽ cắn đứt rốn và ăn nhau
thai, đồng thời liếm sạch khô nước ối trên người con non. CHỒN mới sinh nặng 90
-100 gam, sau khi sinh 2 giờ có thể đứng dạy tìm mẹ để bú. Ngày thứ hai có thể
ăn cỏ non, sau 3 ngày có thể ăn thức ăn tinh và có thể chạy nhảy. Thông thường,
CHỒN
con sau khi nuôi 15 – 20 ngày thì cai
sữa, nuôi riêng để con mẹ khỏe trở lại.
4. Nuôi và chăm sóc “chồn nhung đen”
Nuôi và chăm sóc là
mấu chốt của việc nuôi thành công CHỒN, trọng tâm là thức ăn và môi
trường nuôi. Thức ăn không được biến chất, thối rữa, thức ăn tươi phải sạch,
tươi, tốt nhất là thức ăn ngày nào ăn ngày đấy; phối hợp tốt giữa thức ăn tươi
và thức ăn tinh, cân bằng giữa 2 loại thức ăn. Tạo nên môi trường tốt, thích
hợp cho sự sinh trưởng CHỒN: nơi ở yên tĩnh, ít tiếng động,
thông khí thông gió tốt, mùa hè mát, mùa đông kín gió; nhiệt độ phòng nuôi là
18 – 200 C, độ ẩm tương đối là 45% - 55%; nơi nuôi phải sạch, thức
ăn phải loại bỏ chất độc, nên lót cỏ khô hoặc mạt gỗ, mùa hè lót mỏng, mùa đông
lót nhiều. Cần chú ý không cho chuột, chó, mèo vào chuồng nuôi gây nguy hiểm
cho CHỒN.
Biện pháp chăm sóc
và nuôi CHỒN ở thời kỳ khác nhau và ở mùa khác nhau như sau:
A. Quản lý nuôi dưỡng CHỒN ở các thời kỳ khác
nhau
* Quản lý nuôi dưỡng CHỒN
non. Từ khi mới sinh đến khi cai sữa.
Chú ý quan sát tình
hình cho con bú của CHỒN mẹ, phát hiện những
cụm có 4 – 8 núm nhỏ, có thể thay những con CHỒN ít núm vú bằng những
con khác hoặc người nuôi tự bón sữa cho CHỒN con, phương pháp bón sữa là đầu
tiên dùng bình co đục lỗ rửa sạch, tiệt trùng sau đó cho sữa đã pha loãng hoặc
tinh chất lúa mạch vào bình rồi đặt 1 đoạn ống hút ở miệng bình, sau đó từ từ
bóp nhẹ bình để cho CHỒN ăn. Cứ 1 ngày cho ăn 3 - 4 lần đến khi CHỒN
con có thể tự ăn được. Sau khi CHỒN mẹ sinh con nên đem ra ngoài
nuôi riêng 1 thời gian là tốt nhất, để phòng tránh việc CHỒN mẹ dẫm chất CHỒN
con.
Làm tốt việc chống
nóng và chóng rét cho CHỒN, khả năng thích ứng với sự thay
đổi nhiệt độ của CHỒN con là rất kém nên phải điều chỉnh nhiệt độ sao cho thích
hợp.
Hạn chế là kinh
động, giữ cho môi trường cho ăn được yên tĩnh và sạch sẽ, trong giai đoạn cho
ăn không cần phải tẩy rửa chuồng trại, đợi khi kết thúc giai đoạn này mới tiến
hành tẩy rửa chuồng trại.
*
Quản lý nuôi dưỡng CHỒN giai đoạn sau khi cai sữa
Sau khi CHỒN
cai sữa được 1 tháng, người nuôi căn cứ vào tình trạng lớn nhỏ, khỏe yếu của CHỒN
để phân chuồng nuôi riêng, mỗi mét vuông khoảng 20 đến 30 con, đợi khi đặc tính
đã hình thành thì lại phân chuồng nuôi riêng. Trong khi chăm sóc giai đoạn này
cần chú ý: thức ăn cho CHỒN phải đạt tiêu chuẩn: Tinh,
tươi, nhiều. “Tinh” nghĩa là thức ăn dễ tiêu hóa, dinh dưỡng cao như ngô, lúa
mạch, trộn với 1 ít bột cá, bột xương, muối ăn và thuốc kháng sinh… “Tươi”
nghĩa là lấy những phần tươi, non của cỏ, thân cây, lá là chính. “Nhiều” nghĩa
là chọn những cây cà rốt, củ cải đường, khoai lang, dưa có nhiều lá. Không được
cho ăn những thức ăn cứng, nhiều sơ để đề phòng CHỒN con tiêu hóa, bài
tiết kém dẫn đến tuyệt thực. Nếu xảy ra hiện tượng trên, phải nhanh chóng cho
vào thức ăn 1 ít men tiêu hóa. Ngoài ra còn phải chú ý đến lượng thức ăn và
thời gian cho ăn, mỗi con CHỒN con mỗi ngày chỉ ăn khoảng 10 –
20 gram lương thực, 100 – 200 gram thức ăn tinh. Mỗi ngày ăn 2 lần. Buổi sáng
ăn nhẹ, buổi tối cho ăn nhiều. Đây là do CHỒN con hoạt động nhiều hơn vào ban
đêm, lượng dinh dưỡng cần nhiều. Vào những hôm thời tiết khô hanh, có thể cho
thêm nước vào thức ăn hàng ngày của chúng.
*
Quản lý nuôi dưỡng CHỒN trưởng thành
-
Nuôi trong bồn: Phân bồn nuôi dưỡng căn cứ theo CHỒN lớn hay bé, khỏe hay
yếu để tiện cho việc quản lý. Ngoài ra, để tránh việc phối sớm hoặc gần thân,
cần phải nuôi riêng lứa CHỒN có cùng bố mẹ.
- Cho ăn hợp lý: Nuôi
dưỡng CHỒN trưởng thành lấy thức ăn thanh làm chủ yếu, thức ăn tinh
làm phụ. Cho ăn mỗi lần sáng, tối. Hàm lượng thức ăn thanh mỗi ngày là 250
gam/con, thức ăn tinh cho mỗi con khoảng 25 gram. Cần chú ý làm tốt định thời,
định lượng. Nếu như thức ăn thanh thời gian kéo dài không đủ sẽ gây thiếu
Vitamin làm ảnh hưởng đến chu kỳ thay lông của CHỒN; cần chú ý bổ xung
Vitamin, và cho ăn các loại thảo dược thanh nhiệt giải độc.
- Theo dõi thường
xuyên:
+ Theo dõi lượng
thức ăn, trong tình hình bình thường, cần cho CHỒN ăn theo đúng tiêu
chuẩn. Thức ăn hôm thứ 2 mà CHỒN ăn không ăn hết, nếu như còn dư lại nhiều,
điều đó chứng tỏ rằng thức ăn đó không thích hợp, hoặc không bình thường. Cần
tìm nguyên nhân kịp thời thay thế.
+ Theo dõi phân và
nước tiểu: phân và nước tiểu bình thường của CHỒN có màu sáng, hình
tròn, sau khi khô có màu nâu, dễ vỡ. Nếu phân của CHỒN viên nhỏ mà cứng,
không dễ vỡ là do cho chúng thức ăn quá khô, như vậy cần cho ăn nhiều thức ăn
thanh; nếu như phân không thành hình, lượng nước tương đối nhiều, đây là do
viêm ruột. Như vậy, trong khẩu phần ăn của CHỒN cần cho thêm thuốc để chữa trị.
+ Theo dõi thể
trọng: CHỒN khỏe mạnh bình thường, bốn chân có lực, mắt phát ra ánh
sáng có thần. Nêu CHỒN có các biểu hiện như: thân phía trước lớn, phía sau nhỏ,
phát dục không đều; lông không ánh lên, da phần là do chúng mắc bệnh hoặc dinh
dưỡng không đủ, cần tìm nguyên nhân để kịp thời có biện pháp chữa trị hoặc tăng
thêm dinh dưỡng.
+ Theo dõi màu sắc
của lông: CHỒN khỏe mạnh có màu lông đen nhánh, ánh lên, phân bố đều, sau
khi ăn no thích cọ chân; nếu như lông không sáng, mọc linh tinh, thậm chí rụng
lông, điều đó chứng tỏ dinh dưỡng không đủ, đa phần do thiếu Vitamin C hoặc ánh
nắng mặt trời chiếu thẳng vào chúng. Như vậy cần tăng thêm thức ăn thanh trong
khẩu phần ăn của CHỒN hoặc trộn lẫn Vitamin vào thức ăn tinh; hạn chế ánh nắng
mặt trời chiếu trực tiếp mới giúp cơ thể CHỒN khôi phục.
+ Theo dõi hoạt
động: CHỒN khỏe mạnh bình thường linh hoạt thích chạy nhảy, hay chơi
đùa với nhau. Nếu tinh thần không được tốt, khả năng hoạt động không khỏe, hay
ngủ hoặc chui rúc vào góc ổ, chủ yếu là do chúng bị ốm, cần kiểm tra để chữa
trị.
- Đề phòng
nhiệt độ lên cao: Với điều kiện nhiệt độ vượt quá 370C CHỒN
thường có biểu hiện bất an, hô hấp khó khăn. Đây là lúc cần có biện pháp đề
phòng nhiệt độ lên cao. Cụ thể có mấy điểm như sau:
+ Thông gió, mở tất
cả các cửa ra
+ Mắc thêm quạt
thông gió nếu có điều kiện
+ Chú ý mật độ: Mỗi
chuồng chỉ nên nuôi từ 2 đến 3 con là tốt nhất (mỗi chuồng rộng 0,3 m2).
+ Trong mỗi chuồng
nuôi cần đặt bên cạnh một hộp cát ướt. Hàng ngày vào buổi trưa, có thêm nước
mát từ 1 đến 2 lần, hoặc dội nước ngoài hành lang cũng giúp làm giảm nhiệt độ.
Mỗi chuồng nuôi cần
có mái che.
-
Cho ăn nhiều thức ăn mát như: vỏ dưa hấu, khoai lang, lá rau…
- Phòng lạnh, giữ
ấm: Trước khi bước vào mùa đông, cần cung cấp cho CHỒN lượng dinh dưỡng phong
phú, tốt nhất nên vỗ béo CHỒN để có sức khỏe tốt tránh lạnh. Đến mùa đông, cần
có vải che các cửa sổ, đề phòng gió lạnh vào. Trong chuồng nuôi cần rải nhiều
cỏ mềm để CHỒN có thể rúc vào đó cho ấm. Khi giao mùa đông và xuân, nhiệt
độ thay đổi thất thường, CHỒN dễ bị cảm chết, cần chú ý xem
dự báo thời tiết, có biện pháp thích hợp để giữ được nhiệt độ ổn định trong
chuồng cho CHỒN, tránh trường hợp nhiệt độ lên quá cao hoặc quá thấp.
B. Chăm sóc nuôi dưỡng “chồn nhung đen” giống
Những con CHỒN
đã được qua lựa chọn kỹ càng cũng cần có biện pháp nuôi dưỡng và quản lý
tương ứng nhằm nâng cao khả năng sinh sản của chúng đồng thời thuận lợi cho
việc nuôi dưỡng.
a. CHỒN
khỏe mạnh:
- CHỒN đực và cái đã qua lựa chọn cần
được chăm sóc, nuôi dưỡng khác để nâng cao tỷ lệ sinh sản và chất lượng giống.
- Biện pháp chăm sóc như sau:
+ CHỒN
đực:
Cho ăn thức ăn có chất dinh dưỡng toàn
diện, nếu cho thức ăn xanh cần cho ăn nhiều cỏ voi, thân và lá ngô non, cà rốt,
đối với thức ăn tinh chọn phương pháp phối hợp thức ăn như thứ nhất đã trình
bày ở trên.
Chú ý thời gian, số
lần phối giống, con đực được chọn giống, hạn chế giao phối ở mức 1- 2 lần mỗi
ngày vào mùa xuân và thu; vào mùa đông và mùa hè cần làm tốt giữ ấm và giảm
nhiệt độ mới cho giao phối.
Tỷ lệ phối giống: con
cái và con đực giao phối với tỷ lệ 2:1 là tốt (2 cái, 1 đực) chọn con có thể
trạng tương đồng để phối giống là lý tưởng cấm kỵ nhiều hơn 2 con được giao
phối với 1 con cái, tránh việc do chúng đánh nhau mà giao phối không thành. Cần
chú ý không được giao phối cận huyết hoặc cho con già yếu giao phối để tránh
hiện tượng lai giống.
+ CHỒN cái:
Tiến hành chăm sóc và nuôi dưỡng con
cái chưa mang thai giống như chăm sóc, nuôi dưỡng CHỒN trưởng thành. Sau
khi mang thai nửa tháng, thức ăn cần có lượng Proteinôtêin, can xi, phốt pho
nhất định. Đối với thức ăn tinh, chọn cách phối hợp thứ 2 đã trình bày ở trên,
thức ăn xanh chủ yếu là cỏ voi, thân và lá cây ngô, cà rốt. Không được cho ăn
thức ăn biến chất, mốc, cỏ có lẫn sương để tránh đẻ non. Không nên thay đổi
thức ăn đột ngột tránh trường hợp ruột của con cái mang thai chưa thích ứng
được.
Chăm sóc trong thời
gian CHỒN
cái mang thai nên nuôi riêng con cái, con đực là tốt nhất, cố gắng giữa yên
tĩnh cho con cái mang thai, lúc này không thích hợp để đổi nơi ở, không được
bắt hay tham quan.
Trong thời kỳ cho
con bú, cho con mẹ ăn chứa nhiều Protein, Vitamin, chất đề kháng. Do sinh đẻ
mất tương đối khá nhiều nước nên cần cho ăn thức ăn có hàm lượng nước nhiều
như: Cỏ voi, cà rốt, cỏ non, lá rau, vỏ dưa, cần trộn thêm đậu tương hoặc sữa
bò để tránh một bộ phận CHỒN mẹ khi sinh đẻ mất nhiều nước
mà ăn con hoặc cào chết con.
Điều tiết nhiệt độ
trong phòng nuôi: Nhiệt độ thích hợp nhất trong thời kỳ cho con bú là 20 -270C.
Mùa hè nhiệt độ không được vượt quá 350, nếu trời nóng bức cần áp
dụng biện pháp giảm nhiệt độ. Mùa đông nhiệt độ thấp nhất cũng không dưới 120C.
Nếu nhiệt độ quá thấp, có thể thắp bóng đèn 60W – 100W trong phòng nuôi để tăng
nhiệt.
C. Quản lý nuôi dưỡng “chồn nhung đen” theo mùa
Quản lý nuôi dưỡng CHỒN
một cách khoa học đó là cần nắm bắt được sự thay đổi điều kiện môi trường, thức
ăn, mùa không giống nhau, mục đích và yêu cầu nuôi dưỡng các loại CHỒN
khác nhau; tạo cho chúng điều kiện thuận lợi nhất và tốt nhất để sinh trưởng.
Dưới đây là một số điểm quan trọng cần chú ý:
1. Quản lý nuôi dưỡng “chồn nhung đen” mùa xuân:
Đặc điểm khí hậu
mùa xuân: Mưa nhiều, ẩm ướt, các loại vi sinh vật tăng trưởng và lan truyền
nhanh. Nhưng lại không thuận lợi cho việc sinh trưởng của CHỒN, nuôi dưỡng quản lý
chúng vào mùa này cần phòng bệnh là chính, cụ thể cần làm những việc như sau:
- Những thức ăn
xanh cần làm khô lượng nước trong đó mới có thể cho CHỒN ăn, vào những ngày
mưa âm u thì lấy thức ăn khô làm chính, tuyệt đối không được cho CHỒN
ăn những thứ bị hỏng hoặc biến chất. Còn đối với các con non, cần cho chúng ăn
thức ăn mềm, dễ bị tiêu hóa.
- Chú ý vệ sinh
chuồng nuôi CHỒN: Cần làm vệ sinh chuồng nuôi CHỒN sạch sẽ, đánh rửa
bằng các nước khử trùng, tiêu độc.
- Đối với những
con non sắp cai sữa, tốt nhất cho chúng tránh mùa mưa ẩm ướt, như vậy mới nâng
cao tỷ lệ sống của chúng.
2. Quản lý nuôi dưỡng “chồn nhung đen” mùa hè
Đặc điểm khí hậu
mùa hè: Nhiệt độ cao, nóng, độ ẩm lớn. Đồng thời, mùa hè nguồn thức ăn thanh
đầy đủ, rất có lợi cho quá trình sinh trưởng, phát dục của CHỒN và sức khỏe của CHỒN
mẹ. Vì vậy, cần nắm được thời cơ này để cho CHỒN sinh sản. Ngoài ra,
cần chú ý một số điểm sau đây:
- Làm tốt công tác
điều hòa nhiệt độ: Hạn chế đến mức thấp nhất ánh nắng mặt trời chiếu trực tiếp
vào chuồng CHỒN, nóc chuồng cần có mái che, trong chuồng cần thông gió,
mang lại sự thoáng mát, giảm tối thiểu các bệnh truyền nhiễm.
- Cho CHỒN
ăn thêm nhiều thức ăn xanh, đảm bảo lượng nước đầy đủ cung cấp cho chúng. Cần
thêm một ít muối vào thức ăn của CHỒN (khoảng 1%).
- Chú ý mật độ
nuôi CHỒN:
Không nên nuôi CHỒN quá đông, quá chật.
- Khi cho CHỒN
giao phối, cần tránh những hôm nắng nóng, đề phòng việc thai chết vong hoặc các
tổn thất khác.
3. Quản lý nuôi dưỡng “chồn nhung đen” mùa thu
Đặc điểm khí hậu
mùa thu: Thời tiết dễ chịu, nhiệt độ thích hợp với sinh trưởng của CHỒN,
thức ăn phong phú, rất có lợi cho sinh trưởng phát dục và sinh sản của CHỒN.
Đến cuối mùa thu,
khí hậu giữa ban ngày và ban đêm chênh lệnh nhiều, dễ khiến CHỒN
bị cảm, viêm phổi. Vì vậy, ban ngày cần làm tốt việc thông gió, buổi tối cần
đóng cửa sổ, giúp cho CHỒN duy trì được nhiệt độ cân bằng.
Vào mùa này, cần cho CHỒN ăn uống đủ chất, tích mỡ, tạo
điều kiện sức khỏe tốt nhất để chúng sống qua mùa đông giá rét.
4. Quản lý nuôi dưỡng “chồn nhung đen” mùa đông
Đặc điểm khí hậu
mùa đông: Nhiệt độ thấp, ánh sáng ít, thức ăn thanh không đủ, thiếu Vitamin
không có lợi cho sinh trưởng, phát dục của CHỒN, sức khỏe của chúng có chiều
hướng giảm sút, sẽ xuất hiện hiện tượng lưu sản. Như vậy, nên áp dụng một số
cách sau để đối phó với mùa đông:
- Cho chúng ăn những loại thức ăn
chứa nhiều nước như: Cà rốt, củ cải…đồng thời cho ăn thêm các chất có Vitamin
C, đảm bảo được sự sinh sản bình thường của CHỒN.
- Tăng độ ấm trong chuồng bằng cách
mắc thêm đèn điện, giúp cho CHỒN con hoạt động bình thường, giảm
thiểu tổn thất.
- Rải thêm cỏ khô vào trong chuồng của CHỒN,
giữ cho chuồng luôn khô sạch, giảm thiểu gió, giữ nhiệt độ ấm tương đối ổn định
trong chuồng.
- Duy trì độ ẩm trong không khí khoảng 40%
-60%.
- Tiêu hao năng lượng của CHỒN
trong mùa đông lớn, chính vì vậy để tăng cường khả năng chịu rét của chúng, cần
cho chúng ăn những chất cung cấp nhiều năng lượng.
Chương III: Phòng và trị bệnh cho CHỒN
1. Bệnh chướng bụng
Nguyên nhân: Do
thức ăn của chúng bị hỏng, biến chất sinh độc tố hoặc nguồn nước uống ô nhiễm
gây nên.
Triệu chứng: Bụng
chướng to, thức ăn thừa nhiều, hoạt động mệt mỏi…Với trường hợp nghiêm trọng có
thể bị chết.
Cách chữa trị: Cách
ly riêng CHỒN bị bệnh, cho chúng ra nơi ở mới thoáng khí, ấm áp, sạch
sẽ, thay hộp thức ăn mới, cho chúng uống nước tỏi hoặc thuốc PHARMALOX đặc trị
chướng hơi, nhiễm độc, táo bón. Dùng liên tục trong 2 -3 ngày, mỗi ngày từ 1- 2
lần có thể chữa khỏi.
2. Bệnh táo bón
Nguyên nhân: Do CHỒN
ăn thức ăn khô trong một thời gian dài hoặc thức ăn nhiều xơ dẫn đến tiêu hóa
có vấn đề, bỏ ăn. Quản lý không tốt dẫn đến dạ dày chúng bị bệnh.
Triệu trứng: Tinh
thần bất an, ngày càng gầy đi, lâu ngày sẽ dẫn đến chết. Sau khi chúng chết,
thân thể trở nên khô cứng.
Cách chữa trị: Cho
uống PHARMALOX ngày 1 đến 2 lần, uống 2 đến 3 ngày.
Hộ lý: Ngừng cho ăn
thức ăn khô, cho ăn nhiều thức ăn thanh, cỏ non, Vài ngày sau, lại cho chúng ăn
thức ăn bình thường. Đồng thời thêm vào khẩu phần ăn của CHỒN Vitamin cần thiết.
Ngoài ra, cần thường xuyên kiểm tra thức ăn của CHỒN để tránh bệnh này.
3. Viêm phổi
Nguyên nhân: Do
thời tiết thay đổi đột ngột, bị nhiễm lạnh nên cảm, đặc biệt là giao giữa cuối
mùa đông và mùa xuân rất dễ phát bệnh.
Triệu chứng: hô hấp
nhanh, ho khan, sợ lạnh, nhiệt độ cơ thể giảm, kém ăn hoặc tuyệt thực, khi bệnh
nặng, nhiệt độ cơ thể tăng cao, sưng đầu, phù mặt. Đa số, mắt sẽ tiết ra dịch
mủ. Mũi tiết ra niêm dịch dạng mủ.
Phương pháp phòng
và điều trị:
- Tylosin (0,3ml) +
vitamin c (0,1ml), tiêm dưới da hoặc tiêm bắp, 2 lần/ngày, điều trị trong 3
ngày. Nếu chưa khỏi hoàn toàn thì nghỉ một ngày sau đó tiêm thêm 1mũi vào ngày
thứ 5.
- Hoặc genta
colenro (0,2ml) + vitamin c (0,1ml), tiêm dưới da hoặc tiêm bắp, 2 lần/ngày,
điều trị trong 3 ngày. Nếu chưa khỏi hoàn toàn thì nghỉ một ngày sau đó tiêm
thêm 1mũi vào ngày thứ 5.
- Hoặc DT. OXACIN
XL (0,1ml) + vitamin c (0,1ml), tiêm sâu bắp thịt, tiêm một mũi duy nhất, sau
4-6 ngày có thể tiêm nhắc lại một mũi nữa.
Ngoài ra cho uống
thêm điện giải + B.comlex ngayg 2 lần.
4. Bệnh rụng lông
Do ăn uống không đủ
chất dinh dưỡng hoặc bệnh ngoài da gây nên. Biểu hiện của bệnh rụng lông do ăn
uống thiếu chất: Thể trọng gầy yếu, ủ rũ, toàn thân lông rụng từng mảng. Rụng
lông do bệnh ngoài da có biểu hiện ở con CHỒN cái thường xẩy ra ở thời kỳ cho
con bú, bệnh trạng có tính tán phát, hiện tượng lông rụng ở phần lưng mở rộng
dần ra phía ngoài.
Phương pháp phòng
và điều trị: Trong trường hợp nguyên nhân do thiếu chất dinh dưỡng: Cần cho ăn
đủ thức ăn, tăng thêm tỷ lệ Protein, cho ăn cỏ cung cấp năng lượng cao. Trường
hợp nguyên nhân là do bệnh ngoài da: Sử dụng dầu long não dùng trong y học bôi
vào vết thương, mỗi ngày 1 lần, trong 2 – 3 ngày có thể khống chế được sự lan
tràn rụng lông và dần dần mọc lông mới.
5. Bọ chét gây hại
Loại bệnh này khiến
cho con CHỒN cảm thấy bất an, ngủ không ngon, hay dùng vuốt gãi đầu,
tai, da và lông bị tổn thương, cơ thể gầy gò, ảnh hưởng đến sinh trưởng phát
triển và sinh sản.
Cách phòng ngừa và
điều trị: Dùng hantox đặc trị ve, bọ chét xịt lên con vật tránh vùng đầu.
6. Mưng mủ ở trán
Bệnh này là bệnh do
cầu khuẩn móc xích truyền nhiễm, đa số xuất hiện ở CHỒN trưởng thành, trán
xuất hiện nhọt to nhỏ khác nhau.
Cách phòng ngừa
điều trị: Tất cả những con CHỒN trưởng thành đực và cái mắc bệnh
này không được để làm giống. Dùng lưỡi dao lam đã được khử trùng rạch mụn để
cho mủ trào ra, sau khi mủ ra ta bôi Penexilin lên miệng vết rạch.
Có thể dùng thuốc
khử trùng, ngày 2 lần.
7. Bệnh Cầu trùng
Cơ thể CHỒN
có thể nhiễm ký sinh cầu trùng, đa số xuất hiện ở CHỒN con. Con nhiễm bệnh
chán ăn, bụng chướng, tiêu chảy, người gầy.
Phòng bệnh: Dùng
tỏi, hành tây, trộn lẫn với thức ăn.
Trị bệnh: Cho ăn
thuốc đặc trị cầu trùng trộn với thức ăn, ăn trong 1 tuần liên tiếp.
Chương IV: Vận
chuyển “chồn nhung đen”
Vận chuyển CHỒN
là một khâu không thể xem nhẹ, nếu không chú ý công sức sẽ đổ xuống sông
xuống bể. Do vậy cần làm tốt các công tác sau:
1. Chọn những con CHỒN
khỏe mạnh để vận chuyển, không nên vận chuyển những con bị bệnh, gầy hoặc
sắp sinh để tránh gây ra chết, đẻ non hoặc truyền bệnh trên đường đi.
2. Chọn lồng nhốt CHỒN
chắc chắn, thoáng khí, gọn nhẹ, vận chuyển thuận tiện. Lồng nhốt có kích
cỡ 50cm x 35 cm x 15 cm có thể chứa được 10 con (mỗi con không quá 0,4kg), nhốt
được 8 con (mỗi con không quá 0,8 kg). Những con nhốt chung một lồng cần có
cùng độ tuổi lẫn thể trạng để tránh đánh nhau. Dưới đáy lồng lót bìa cứng để
phân và nước tiểu không rơi xuống làm bẩn những con ở lồng dưới.
3. Khi xếp lồng nhốt trên xe cần
khoa học, tiện quản lý, mật độ không được quá lớn, giữa các lồng cần có không
gian.
4. Vận chuyển đường dài cần đặt một
lượng cỏ tươi thích hợp, để CHỒN không bị đói trên đường
đi.
5. Thời điểm vận chuyển nên chọn mùa
xuân, thu, đầu đông là tốt nhất, mùa nhiệt độ cao tốt nhất không nên vận chuyển
đường dài. Nếu nhất định phải vận chuyển thì chọn thời điểm sáng sớm hoặc đêm
tối và phải chú ý thoáng khí trong xe.
Vận chuyển vào mùa
đông cần chống lạnh, để CHỒN không bị cảm hoặc viêm
phổi. Giữa đường phát hiện thấy điều gì đó không ổn cần kịp thời xử lý.
Chương V: Sử dụng
tổng hợp CHỒN
I. Tác dụng của CHỒN
1. Thịt
Thịt CHỒN
sau khi giết mổ, xử lý sạch sẽ được đóng gói, tiêu thụ thịt đông lạnh.
2. Da
Da mùa đen bóng, ưa
nhìn, có thể dùng làm cổ áo, ống tay áo, găng tay, giầy, đồ chơi hoặc hàng thủ
công mỹ nghệ.
3. Lông
Trong lông CHỒN
có chứa chất có tác dụng thúc đẩy quá trình oxy hóa tế bào, tăng lượng
bạch cầu trong máu và ngăn chặn sự phát triển của tế bào gây bệnh. Lông CHỒN
có tác dụng rất lớn trong y học.
4. Huyết CHỒN
Trong huyết CHỒN
, người ta có thể thanh lọc ra huyết thanh, phát huy tác dụng trong y học. Có
thể ngâm huyết CHỒN 0 với rượu, giúp ích cho xương, cốt khi xoa bóp bằng rượu
này. Ăn huyết CHỒN có thể chữa được rất tốt bệnh đường ruột dạ dày mãn
tính.
II. Cách chế biến một số món ăn từ
thịt CHỒN thường gặp
1. CHỒN xào tỏi
- Đặc
điểm của món ăn: Màu sắc của món ăn hồng vàng, có hương vị thơm
ngon, mùi tỏi dậy
lên; hương vị hồi đậm, là món ăn nổi tiếng cao cấp trên
các bàn yến tiệc
mang hương sắc đồng quê.
-
Nguyên liệu:
+ Nguyên liệu chính: 500gam
CHỒN
sạch
+ Phụ liệu: Tỏi 100 gam; hành, rượu
trắng, mỡ lợn 100 gam, dầu
hào 10 gam.
- Cách làm:
Trước tiên, rửa
sạch thịt CHỒN , cắt ra làm 20 miếng, rửa lại bằng nước, để khô. Cho một
nửa mỡ lợn đã thắng vào, đợi đến khi mỡ sôi già, cho CHỒN vào đảo nhanh
tay, cho thêm rượu và dầu ăn vào. Sau đó cho tiếp lượng mỡ còn lại, cho các
loại phụ liệu vào, đảo đều cho đến khi thấy thịt CHỒN chín vàng,
thơm là được.
2. Thiên bảo hồi xuân
-
Điểm quan trọng nhất của món ăn này là giữ được mùi vị và đặc sắc của
thịt CHỒN
. Thiên bảo hồi xuân có tác dụng bổ thận, tráng dương, tăng cường sinh lực, đây
không chỉ là món ăn bổ dưỡng mà còn là vị thuốc quý.
-
Nguyên liệu: thịt CHỒN 500 gam, thiên ma (vị
thuốc đông y) 10 gam, hành, tỏi, rượu, bột ngọt, hạt nêm (hoặc muối).
-
Cách làm: Trước tiên, rửa sạch thịt CHỒN , cắt ra làm 20 miếng, rửa lại
bằng nước, để khô. Cho hành, tỏi đã băm nhỏ vào chảo dầu nóng, đảo nhanh tay
đến khi có mùi thơm, sau đó cho thịt CHỒN vào, đảo cho thịt chín vàng
khoảng 20 phút. Đợi đến khi thịt mềm, cho hạt nêm, bột ngọt, rượu, thiên ma
vào. Đảo đều cho gia vị ngấm vào thịt, rồi trình bày ra đĩa.
3. Khiếu hoa CHỒN
-
Nguyên liệu: thịt CHỒN 500 gam, giấy bạc dùng để
gói 33 cm x 33 cm, hạt nêm, muối, bột canh 5 gam, cà rốt luộc chín 20 gam, rượu
25 gam, dầu ăn, đường, nấm hương 10 gam.
-
Cách làm: Trải giấy bạc vào khay, sau đó cho các loại gia liệu đã được
đảo chín vào, rải lên trên CHỒN , rưới rượu lên thân CHỒN
, cuộn giấy bạc lại. Sau đó cho vào hấp cách thủy đến khi thịt CHỒN
chín. Mở giấy bạc ra, ta có thể thưởng thức món Khiếu hoa CHỒN hương vị thơm
ngon, vô cùng tuyệt mỹ.
4. Ngọc thụ CHỒN
-
Nguyên liệuCHỒN 1 con, hành, tỏi, dầu ăn, rượu, rau cải làn 12 cây.
-
Cách làm: Cho CHỒN đã rửa sạch vào nồi, đổ
một ít nước vào, nấu trong khoảng 3 phút, cho thêm hành tỏi, tiếp tục nấu trong
20 phút, sau đó vớt CHỒN ra. Cắt thịt CHỒN ra từng miếng rộng 3,3
cm, dài 6,6 cm. Trình bày, đặt cải làn đã chín vào đĩa, gắp từng miếng CHỒN
đã chín mềm đặt lên trên.
5. Túc tử xào CHỒN
-
Nguyên liệu: CHỒN 1 con, túc tử 250 gam, dầu ăn 2 thìa, hành, dầu
tương, gia vị, đường miếng, rượu.
-
Cách làm: Túc tử ngâm với nước khoảng 20 phút. Thịt CHỒN cắt miếng 3,3
cm x 3,3 cm. Đun sôi dầu ăn, cho túc tử vào, nêm gia vị. Sau đó cho thịt CHỒN
xào lửa to, nhanh tay, đến khi thấy thịt CHỒN săn lại là
được.
6. Thần tiên dưa CHỒN
-
Nguyên liệu: Dưa hấu non: 1 quả, CHỒN : 1 con, măng 50 gam, gia vị,
bột năng 1 bát.
-
Cách làm: Cắt đi 1/5 quả dưa, khoét hết phần ruột bên trong của quả dưa
đi, chỉ dùng vỏ dưa bên ngoài. Nếu muốn trình bày đẹp thì ta có thể tỉa hình
các loại hoa lên vỏ dưa.
Rửa sạch CHỒN
, cho vào trong nồi nhỏ, sau đó cho măng đã được nấu mềm vào, cho thêm bột
năng, đảo đều, nấu đến khi thấy thịt CHỒN săn lại, trong khoảng 40
phút. Sau đó cho hỗn hợp trên vào vỏ dưa. Vậy là chúng ta đã hoàn tất món Thần
tiên dưa CHỒN .
7. CHỒN da giòn gạo
nếp
-
Nguyên liệu: CHỒN 1 con, gạo nếp 100 gam, thịt chân giò hun khói 50 gam,
trứng gà 1 quả, mỡ lợn, dầu tương, đường, rượu, dầu bán hoàn, nấm mùa đông 10
gam.
-
Cách làm: CHỒN lọc bỏ hết xương, ngâm gạo nếp trong nước khoảng 2 phút,
nấm chỉ lấy phần nắp, thịt chân giò thái mỏng. Dùng mỡ lợn nấu chín nấm và thịt
chân giò. Hỗn hợp gạo nếp, đường, rượu nấu chín đều. Sau đó cho toàn bộ vào nồi
ninh. Quện trứng gà lên da CHỒN, rán chín. Rồi cho thịt CHỒN
đã chín vàng vào nồi ninh. Nấu trong vòng 5 phút, ta đã hoàn thành món CHỒN
da giòn gạo nếp.
8. CHỒN
hầm
-
Nguyên liệu: CHỒN 1 con, nước 1 bát, hành, dầu hưng hoàng, gia vị
-
Cách làm: Cho CHỒN vào trong nồi áp suất,
cho đầy đủ các loại gia vị vào. Nêm vừa ăn. Hầm trong khoảng thời gian 45 phút,
khi ăn ta thái hành lá lên trên.
9. CHỒN hầm bí đao
-
Nguyên liệu: CHỒN 1 con, bí đao một quả nhỏ, mấy miếng thịt chân giò
nướng, nấm hương, gia vị, hành tỏi
-
Cách làm: Rửa sạch CHỒN , sau đó cho toàn bộ vào trong
nồi nấu, nêm gia vị vừa đủ. Cắt bí đao ra làm 2 miếng, miếng lớn cho vào nồi
ninh. Khi thịt CHỒN đã chín mềm, ta cắt bí đao miếng nhỏ thành từng lát
mỏng, đặt lên trên bề mặt món ăn. Tiếp tục nấu khi thấy bí đao trên bề mặt chín
thì bắc ra.
10. CHỒN nấu ngô
-
Nguyên liệu: CHỒN 1 con, bột ngô, rau cải thìa, cà rốt, hành, gia vị
-
Cách làm: Phi thơm hành, sau đó cho hỗn hợp bột ngô vào, nấu sủi chín.
Sau đó cho CHỒN rửa sạch vào, thêm một ít nước. Nêm gia vị vừa ăn.
Cắt nhỏ rau cải thìa và cà rốt tỉa hoa cho vào nồi nấu đến khi chỉ còn một ít
nước trong nồi là được.
11. CHỒN chao
-
Nguyên liệu: CHỒN 1 con, hành, tỏi, đường, bột năng, rượu, dầu ăn, gia
vị trong thịt.
-
Cách làm: Đun sôi dầu ăn, thả CHỒN vào. Để dầu ăn ngập thịt CHỒN
. Đến khi thấy da chín vàng, giòn là được. Chao trong khoảng 8 phút.
12. Hồng dầu CHỒN miếng
-
Nguyên liệu: CHỒN 1 con, dầu hào 10 gam, dầu tương 10 gam, rượu 10
gam, gia vị, dấm, hành tỏi, hoa tiêu, đường, bột ngũ vị hương.
-
Cách làm: Cắt CHỒN ra từng miếng nhỏ, ướp
với gia vị và bột ngũ vị hương. Phi thơm hành tỏi, cho thêm một ít dấm, đường,
bột năng vào. Tạo thành dung dịch hơi đặc. Rán CHỒN miếng đến khi thấy
có màu vàng hồng, bắc ra, xếp lên đĩa. Đổ hỗn hợp nấu chín lên trên. Rải hành
thái mỏng lên đều.
13. CHỒN bọc giấy
-
Nguyên liệu: CHỒN 1 con, trứng gà 1 quả, dầu tương 15 gam, rượu hưng
hàng 10 gam, hành, đường 5 gam, giấy bạc khổ lớn, gia vị.
-
Cách làm: Cắt CHỒN ra thành từng miếng hình
vuông hoặc hình chữ nhật. Dùng lòng trắng trứng gà, dầu tương, rượu, đường,
hành nấu chín. Cắt giấy bạc ra từng miếng 6 cm x 8 cm, quết dung dịch đã nấu
chín kia lên từng miếng thịt CHỒN, bọc giấy bạc lại, sau đó cho
vào lò nướng, khoảng 3 đến 4 phút là thịt CHỒN chín.
14. Tam hoàn CHỒN
-
Nguyên liệu: CHỒN làm sạch: 1 con, dầu ăn, rượu, đường trắng: 50 gam,
5 miếng hồi.
-
Cách làm: Làm sạch CHỒN , dùng 1/3 mỗi loại nguyên liệu
để nhồi vào bên trong CHỒN phần còn lại dùng trong
khi nấu. Sau đó cho thêm vào một bát nước. Đun lửa nhỏ khoảng 1 tiếng trở lên
đến khi chín mềm.
Trình bày: Có thể
cắt CHỒN
ra từng miếng hoặc để cả con.
15. Hồng muộn song đồng (CHỒN hầm)
-
Nguyên liệu: CHỒN non: 2 con (trọng lượng mỗi con khoảng 500 gram),
cải thìa 2 cây, hành tỏi, cây hoa tiêu (vị thuốc đông y), dầu ăn, dầu hào, dầu
lạc 15 gam, đường 10 gam, muối 10 gam.
-
Cách làm: Cho CHỒN non vào nồi có dầu nóng,
nấu trong vòng 30 phút; cho thêm dầu hào vào, hành tỏi băm nhỏ, nước đường hòa
tan rưới lên CHỒN . Sau đó cho hoa tiêu, gia vị vừa đủ, hầm trong vòng 2
tiếng. Dùng dầu lạc xào rau cải thìa, tỏi. Sau khi xào chín xong, trình bày lên
hai bên thành đĩa, rồi đặt CHỒN đã được hầm mềm vào đĩa,
rồi rưới nước sốt lên.
16. CHỒN hấp (hay còn gọi
là CHỒN chưng khấu)
- Nguyên liệu: CHỒN 1 con, nấm
hương 5 chiếc. Muối 5 gam, hạt tiêu, gừng 2 lát, hành lá 10 củ, hành lá thái
nhỏ, dầu vừng 20 gam, giấm 10 gam, dầu hào 20 gam.
-
Cách làm: Cho CHỒN vào nồi, cho nước vào đun
đến chín. Bỏ CHỒN vào nồi hai ngăn hấp cách thủy, lót gừng dưới đáy nồi
trên, nồi dưới là nước sôi. Cho hạt tiêu, rưới các loại dầu lên CHỒN,
hành thái củ vào. Hấp trong vòng nửa tiếng, sau đó để CHỒN vào đĩa, đổ
nước sốt dầu, hành, hạt tiêu lên trên.
17. CHỒN gập
-
Nguyên liệu: CHỒN 1 con, hành, tỏi, dầu ăn, rượu, đường, muối. mộc nhĩ khô
10 gam, rau Kim châm 20 gam, dầu 500 gam.
-
Cách làm: Dùng 20 gam dầu tương bôi đều bên trong và bên ngoài CHỒN được làm sạch, sau đó cho CHỒN vào chảo, đảo
cho đến khi chín vàng. Sau đó cho các loại gia vị nêm vừa đủ, đổ vào nồi hai
bát nước, nấu cho đến khi cạn còn khoảng nửa bát, vớt CHỒN ra, đợi đến khi
nguội. Gập thân CHỒN lại, rải mộc nhĩ và kim châm đã được xào chín lên trên.
Nước nấu sau đó có rưới lên trên CHỒN .
18. Thanh tiêu đồng CHỒN
-
Nguyên liệu: CHỒN non: 1 con, 1 cây cải thìa lớn, táo đỏ nhỏ, hành,
tỏi, dầu ăn 30 gam, bột đậu 20 gam. Dầu tương 10 gam, đường 5 gam.
-
Cách làm: Đầu tiên rửa sạch CHỒN , cắt thành miếng nhỏ, cho bột
đầu hòa vào nồi, đun sôi, cắt cải thìa ra thành 3 đoạn, cho thêm dầu ăn các
loại gia vị sau đó đun sôi hỗn hợp đó lại, cho CHỒN vào, cho thêm nửa
bát nước, đun đến khi cạn, các chất ngấm vào bên trong CHỒN , mùi vị thơm
ngon./.